Showing posts with label Con thuốc. Show all posts
Showing posts with label Con thuốc. Show all posts

Rắn độc chữa bệnh

snakes5
Theo Đông y, thịt rắn làm thông kinh mạch bị bế tắc và trừ phong hàn nên được dùng để trị các chứng phong thấp. Nó cũng có khả năng chữa trị chứng tê ngoài da, ngứa, nhất là ngứa kinh niên do chàm (eczema).

Rắn có thể có nọc độc hoặc không. Ở rắn độc, hai răng ở hàm trên phát triển thành nanh, chứa chất độc. Rắn có một khả năng đặc biệt là thay da mà chúng ta thường gọi là “lột da”, mỗi năm rắn có thể thay da vài lần. Da rắn sau khi lột là một vị thuốc quý trong Đông y.
Nhóm rắn không độc gồm rắn vòng cổ; rắn đuôi nhọn; rắn nước (dài khoảng 50cm-2m, chạy rất nhanh, đầu không ngóc cao khỏi đất), ô sao xà. Nhóm rắn độc gồm rắn lục, rắn chuông, rắn hổ và bạch hoa xà. Rắn biển (còn gọi là Đẻn) đa số tương đối hiền, chỉ vài loài hung dữ, nhưng đặc biệt nọc rắn biển rất độc (gấp 50 lần nọc rắn hổ).
Như mọi động vật khác, rắn là nguồn cung cấp chất đạm rất tốt, thịt rắn tương đối nạc, ít mỡ do vận động nhiều. Nó cũng có nhiều vitamin và khoáng chất quý như kali, canxi, sắt, kẽm, vitamin A, D, B1, B2, B6, B9...
Đông y dùng rắn dưới nhiều dạng, từ ngâm rượu, nấu cháo đến uống rượu pha máu rắn, ăn mật rắn. Y thư cổ truyền Trung Quốc có kê những toa thuốc lấy từ 2 loại rắn: một từ rắn độc Bạch hoa xà (chỉ chung 2 loài hổ và cạp nong) và một từ rắn nước gọi là Ô sao xà.
Theo Đông y, rắn (không kể phủ tạng), có tính ấm, vị ngọt, tác động vào Can kinh và Tỳ kinh. Cả hai loại trên có tác dụng như nhau, nhưng rắn nước thì yếu hơn. Thịt rắn được dùng để trị các chứng phong thấp, tê ngoài da, ngứa, nhất là ngứa kinh niên do chàm. Da rắn sau khi lột (Xà thuế) tính bình, vị ngọt mặn, có tác dụng khu phong, chống co giật nên được dùng trị bệnh phong ngứa ngoài da, và kinhgiật ở trẻ em.

Các bộ phận khác của rắn còn được sử dụng theo nhiều phương thức khác nhau. Huyết rắn làm tăng sinh lực, bổ thận; có thể dùng chung với mật rắn để tạo thành “Huyết xà đởm”. Mật rắn vị đắng, tính hàn, có thể làm hạ hỏa và tiêu đờm do nhiệt gây ra. Mật rắn cũng giúp tan máu bầm nên được ngâm rượu để chữa chứng nhức xương, phong thấp.

Rượu rắn được xem là một loại thuốc bổ dưỡng. Rượu ngâm với rắn khô hoặc tươi đều được nhưng phải bỏ đầu, đuôi và tạng phủ (chỉ giữ lại mật). Nếu ngâm tươi phải đủ 100 ngày, nhưng nếu rắn đã sấy hoặc phơi khô thì chỉ cần 30 ngày.
Các loại rượu rắn: Tam xà tinh ngâm 3 loại rắn hổ mang, cạp nong và hổ lửa; ngũ xà tinh thêm hổ trâu và hổ hành; lục vị xà tửu gồm rắn ngâm với 6 vị thuốc; bát vị xà tửu ngâm với 8 vị thuốc. Thuốc được ngâm chung với rắn thường là những vị bổ như sinh địa, thục địa, nhân sâm, hà thủ ô, đỗ trọng hoặc thêm xuyên khung, bạch chỉ, hoàng kỳ để trị phong thấp; có thể thêm câu kỷ tử, ngũ vị tử, phúc bồn tử để giúp tráng dương, bổ thận.
Thuốc đặc chế đông dược: Xà đởm xuyên bối tán gồm 2 thứ là mật rắn và xuyên bối mẫu, dùng để trị ho và tiêu đờm. Xà đởm trần bì tán được dùng để trị phong nhiệt gây ho đờm, hen, tức ngực, viêm họng và trị chứng kinh phong. Tam xà đởm xuyên bối cao là thuốc bào chế dưới dạng siro dùng trị ho cho trẻ em.
Nếu như Đông y sử dụng hầu hết các bộ phận của rắn thì Tây y chỉ chú trọng nghiên cứu độc tính và tác dụng của nọc rắn nhằm chế tạo các loại huyết thanh kháng độc khi bị rắn cắn. Các nhà khoa học nhận thấy dù cùng một nhóm thì mỗi loài rắn vẫn sở hữu một loại nọc đặc thù. Có thể chia các độc tố thành: Độc tố tác động vào máu (gây đông máu hoặc chống đông máu), độc tố tác động vào hệ thần kinh (gây kích thích thần kinh, tê liệt cơ, co giật, ức chế thần kinh làm suy hô hấp, suy tim) và độc tố gây dị ứng (nổi mề đay, lở loét da, sưng phù toàn thân).
Ngoài huyết thanh kháng nọc, y học đã chế được thuốc từ nọc rắn. Một loại thuốc chống đông máu đã được bào chế bằng độc chất chiết xuất từ nọc loài rắn chuông ở Mỹ, được đặt tên là Barbouri. Một loại thuốc kháng mang tên Integrilin (được chế tạo theo công thức của Barbourin, chỉ thay thế vài vị trí của các acid amin) cũng đang được thử nghiệm trong điều trị cơn đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim.
Nghiên cứu về nọc độc của rắn lục Bothrops jararaca, các nhà khoa học đã phát hiện ra một loại Peptid có khả năng làm hạ huyết áp. Từ đó, họ đã phát minh ra loại thuốc ức chế men chuyển đầu tiên: thuốc Captopril (Capoten) để điều trị bệnh cao huyết áp.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)

ẾCH

small_1183514752.nv

Ếch, con Ếch, ech, con ecTên khác:

Ếch có tên gọi là, điền kê, thanh oa, thanh kê, toa ngựa, cáp ngư, thạch kê, thủy kê,

Ếch, con Ếch, ech, con ecTác dụng:

Hoạt huyết tiêu tích, lợi thủy tiêu sưng, giải độc bổ hư, chỉ khái

Ếch, con Ếch, ech, con ecChủ trị:

Trẻ con sang lở, rốn bị thương, ngừng đau, khí không đủ, trẻ em cam tích

Ếch, con Ếch, ech, con ecĐơn thuốc kinh nghiệm:

Bệnh mắt đỏ gáy đỏ, lấy con Ếch giã nhừ vắt lấy nước, lúc bụng đói uống, rất hiệu nghiệm

Ếch, con Ếch, ech, con ecTìm hiểu thêm:

Ếch, con Ếch, ech, con ecTên hoa học:

Rana esculenta, rana guentheri bailenger- Ếch Ranidae

Ếch, con Ếch, ech, con ecTính vị:

Vị ngọt lạnh, không độc,

Ếch, con Ếch, ech, con ecQui kinh:

Vào kinh can, tỳ

Ếch, con Ếch, ech, con ecBộ phận dùng:

Cả con bỏ nội tạng

Ếch, con Ếch, ech, con ecMô tả:

Loài Ếch, sắc mình xanh nhạt lưng có tuyến dọc sắc vàng, bụng trắng, trong miệng có lưỡi, cùng răng, tính nhanh nhẹn, giỏi kêu,

THẰN LẰN

mabuja multi

Tác giả : GS. ĐỖ TẤT LỢI

Hỏi: Con tôi bị bệnh suyễn, gầy yếu và ăn rất ít. Tôi đã cho cháu dùng nhiều loại thuốc Tây y nhưng bệnh ít thuyên giảm. Có người mách là bắt thằn lằn làm thịt cho cháu ăn. Xin bác sĩ cho biết, thằn lằn có ăn được không, có tác dụng ra sao với bệnh hen suyễn?

(Huỳnh Ngọc Đại - Đồng Nai)

Trả lời:

Còn gọi là rắn mối.

Tên khoa học Mabuya sp.

Thuộc họ thằn lằn bóng Scincidae.

Mô tả con vật

Ở Việt Nam có ba loài thằn lằn bóng. Thằn lằn bóng hoa (Mabuya multifasciata), thằn lằn bóng đuôi dài (Mabuya longiccaudata), thằn lằn bóng Sapa (Mabuya chapaense).

Thằn lằn bóng (thông thường nhân dân gọi là thằn lằn) có hình dáng giống cá cóc, nhưng thân vững chắc, cổ rõ ràng, đuôi hình trụ thon dài. Chi dài và khỏe, đầu gối của chi sau không hướng sang bên như cá cóc mà hướng về phía trước. Chi trước và chi sau đều có 5 ngón. Vỏ da thằn lằn có vảy sừng, đầu có nhiều tấm vảy lớn đối xứng ghép sát nhau và thân có vảy nhỏ tròn xếp lên nhau như vảy cá. Ngón có vuốt phát triển. Tuyến da chính thức thiếu làm da thằn lằn rất khô. Nhờ màng phôi đặc biệt, thằn lằn sinh sống hoàn toàn ở cạn.

Thằn lằn bóng đuôi dài đẻ trứng có vỏ thấm calci và phát triển ở ngoài, còn thằn lằn bóng hoa và thằn lằn bóng Sapa có trứng thiếu vỏ dai và phát triển trong cơ thể mẹ, cụ thể trong noãn quản cho tới khi thành con. Đây là trường hợp đẻ trứng thai.

Thằn lằn giao phối vào mùa xuân và đẻ vào mùa hè. Thằn lằn bóng đẻ khoảng 6-8 trứng, (thằn lằn bóng đuôi dài) hoặc 3-5 con (thằn lằn hoa và thằn lằn Sapa). Con mới đẻ dài khoảng 8cm kể cả đuôi. Sau khi đẻ, thằn lằn mẹ còn chăm sóc con trong thời gian nhất định rồi mới để con tự lập.

Phân bố săn bắt và chế biến

Thằn lằn bóng hoạt động ban ngày, vào khoảng thời gian có nhiệt độ nhất định (từ 20-300). Khoảng thời gian này thay đổi tùy theo mùa. Vào mùa hè thằn lằn ra kiếm ăn từ lúc mặt trời mọc tới lúc mặt trời lặn, buổi trưa chui vào chỗ râm ở bụi cây để tránh nắng. Mùa đông thằn lằn trú trong hang, chỉ ra vào những ngày nắng ấm và vào lúc nhiệt độ cao nhất trong ngày thường là buổi trưa.

Khi nguy hiểm con vật chạy rất nhanh về nơi trú ẩn, tạm náu ở đó một thời gian rồi lặng lẽ bò trong lớp cỏ hay trong cây đi nơi khác. Thằn lằn cũng dễ dàng tự cắt đuôi để chạy khi bị bắt và ở chỗ cắt sẽ mọc đuôi mới. Đuôi có thể mọc lại vài lần.

Dựa vào đặc tính sinh hoạt của thằn lằn, người ta câu thằn lằn ở những nơi và vào những giờ chúng hay đi lại.

Thằn lằn lột xác vào mùa hè, thường sau những cơn mưa và có thể lột xác ba bốn lần trong mùa. Sau khi lột xác thằn lằn cũng ăn da như nhiều loại thằn lằn khác. Người ta chủ yếu bắt thằn lằn sống về làm thịt ăn.

Thành phần hóa học

Chỉ mới biết trong thằn lằn có protit ăn được. Còn có chất gì chữa bệnh đặc biệt khác chưa rõ.

Công dụng và liều dùng

Nhân dân tại nhiều vùng bắt thằn lằn làm thịt cho những trẻ em bị hen suyễn, gầy, ít ăn. Mỗi ngày ăn nửa hay một con tùy theo tuổi.

Chú ý: Nhân dân miền Bắc gọi con thằn lằn mô tả trên đây là thằn lằn hay rắn mối và gọi con vật giống thằn lằn nhưng nhỏ hơn, sống trong nhà là con thạch sùng, nhưng ở một số tỉnh miền Nam lại gọi con thằn lằn mô tả trên là con rắn mối, còn con thạch sùng sống trong nhà là con thằn lằn. Cần chú ý tránh nhầm lẫn.

/